Lực lượng chống khủng bố luôn phải sẵn sàng ứng phó với những hình thức khủng bố như đánh bom xe, bắt cóc con tin, khống chế uy hiếp… với những vũ khí công nghệ cao.
1. Đội “A” KGB của Liên Xô, sau này đổi tên thành Cục “A” nổi tiếng khắp thế giới với tên gọi Alpha
1. Đội “A” KGB của Liên Xô, sau này đổi tên thành Cục “A” nổi tiếng khắp thế giới với tên gọi Alpha
Nhiệm vụ chính của phân đội đặc nhiệm này là tiến hành các chiến dịch để ngăn chặn các hành động khủng bố, giải phóng con tin... Ngoài ra, các binh lính của Alpha còn có nhiệm vụ phối hợp với Cơ quan an ninh liên bang (FSB) tiến hành các chiến dịch đặc biệt và có độ phức tạp lớn, cũng như hoạt động tại các “điểm nóng”, đặc biệt ở Chechnya.
| Chiến dịch nổi tiếng nhất ngày 27/12/1979 – Kabul, Afghanistan |
Alpha được thành lập ngày 28/7/1974 trong KGB theo lệnh của giám đốc KGB Yuri Andropov. Khi đó, lực lượng này dự định sẽ thực hiện các chiến dịch chống khủng bố giúp KGB có khả năng đối đầu với những vụ việc tương tự như vụ thảm sát Munich năm 1972 trên lãnh thổ Liên Xô. Tuy nhiên, ngay từ đầu, các nhiệm vụ được trao cho họ đã vượt quá dự tính ban đầu.
Nhiệm vụ đáng chú ý nhất thời Liên Xô là cuộc tấn công vào cung điện của Amin tại Afghanistan ngày 27/12/1979, chiến dịch đặc biệt đánh dấu sự khởi đầu của chiến tranh Xô viết tại Afghanistan. Theo nhiền nguồn tin Nga (gồm cả các cuộc hồi ký của các sĩ quan tại các đơn vị Alpha hay các đơn vị đặc biệt khác có tham gia vào vụ này), chiến dịch được gọi là " Storm-333".
Mục tiêu của chiến dịch là đột chiếm một ngọn đồi cao dưới hỏa lực cực mạnh và cuộc cận chiến dữ dội đã làm thiệt mạng Tổng thống Afghanistan, Hafizullah Amin, cùng khoảng 200 quân cận vệ tinh nhuệ của ông ta.
Trong chiến dịch này Alpha chỉ mất hai người trong khi các lực lượng khác của Xô viết mất 19 người. Các tòa nhà chính phủ khác như tòa nhà Bộ Nội vụ, tòa nhà Bộ An ninh Nội địa (KHAD) và Cung điện Darul Aman cũng bị chiếm giữ trong chiến dịch này, và đây được các cựu chiến binh của Alpha coi là chiến dịch thành công nhất trong lịch sử của họ. Đơn vị này cũng phải hoạt động thường xuyên sau khi Liên Xô đã chiếm được Afghanistan.
Tháng 10 năm 1985, Alpha được biệt phái tới Beirut, Li-băng, khi 4 nhà ngoại giao Xô Vết bị nhóm du kích Hồi giáo Sunni bắt làm con tin. Khi nhóm Alpha tới nơi, một trong bốn con tin đã bị giết. Các thủ phạm và họ hàng của chúng đã bị các đặc vụ làm việc cho KGB xác định, và những người họ hàng đã bị bắt làm con tin.
Theo chính sách chung "không đàm phán", Alpha lấy một số bộ phận cơ thể các con tin của họ và gửi chúng cho những kẻ bắt cóc với một lời cảnh báo rằng các hành động hơn nữa sẽ tiếp tục nếu các con tin Nga không được thả ngay lập tức. Chiến thuật đã thành công và không một người mang quốc tịch Nga nào khác bị bắt làm con tin ở Trung Đông trong suốt 20 năm sau đó, cho tới vụ bắt cóc các nhà ngoại giao Nga ở Iraq năm 2006.
Trong cuộc đảo chính Xô Viết năm 1991 Alpha (dưới sự chỉ huy của Thiếu Tướng Vitor Karpukhin) được trao nhiệm vụ đột nhập vào Nhà Trắng, trụ sở Nghị viện Nga, và giết Boris Yeltsin cùng các lãnh đạo Nga khác sau một vụ tấn công đã được lên kế hoạch vào lối chính bởi lính dù. Lệnh này đã không được toàn thể đơn vị tuân theo. Các thành viên nhóm đã trà trộn vào các đám đông và ước tính khả năng tiến hành nó. Theo những lời kể của họ vào những tháng sau đó, nó đã có thể được thực hiện thành công, và hoàn thành mục tiêu chỉ trong vòng 20 tới 25 phút.
2. Saeret Matkal (đội đặc nhiệm của Bộ Tổng tham mưu) Israel
Saeret Matkal nổi tiếng với tên gọi “Binh đoàn 269”. Đơn bị bộ đội “siêu bí mật này” thuộc sự chỉ huy trực tiếp của Tổng tham mưu trưởng và có nhiệm vụ tiến hành các chiến dịch trinh sát - biệt kích đặc biệt, yểm trợ chiến đấu cho tình báo và các hành động chống khủng bố trên lãnh thổ Israel và biên giới nước này. Năm 1967 được lấy là năm thành lập “269”, nhưng thực tế nó được thành lập vào những năm 50. Những thông tin về đa số các chiến dịch mà đội đặc nhiệm tốt nhất của Israel thực hiện sẽ không bao giờ được tiết lộ.
Việc tồn tại chính thức đầu tiên của nó được công nhận sau chiến dịch Bulmus ngày 19/7/1969. Saeret Matkal với 1 nhóm thợ lặn đã thực hiện cuộc đột kích vào “Đảo xanh", nằm trên kênh đào Suez, phá hủy radar và các trạm pháo phòng không do người Ai-cập bảo vệ.
Lần thứ hai, ngày 9/5/1972, “Binh đoàn 269” đã giải cứu máy bay của Công ty Sabena do bọn khủng bố “Tháng 9 đen tối” khống chế (Chiến dịch “Đồng vị 1”). Trong thời gian các vận động viên Israel tại Thế vận hội Olympic ở Munich năm 1972, bị bắt cóc, Chính quyền Đức đã không cho phép đội đặc nhiệm Saeret Matkal can thiệp vào giải cứu con tin. Kết quả các con tin đã bị chết vì những hành động “kém thông minh” của cảnh sát địa phương.
Ngày 26/7 cũng năm đó, trong chiến dịch Araz Bet, đội đặc nhiệm Saeret Matkal đã bắt giữ 5 nhân viên tình báo Syria từ lãnh thổ Li-băng chuẩn bị các cuộc tấn công chống quân đội Israel. Sau đó, tiến hành đổi 5 nhân viên này lấy 3 phi công Israel đang bị giam giữ làm tù binh tại Syria và Ai-cập.
Ngày 10/4/1973, những binh lính Saeret Matkal dưới sự yểm trợ của 30 nhân viên Mossad và đội biệt kích hải quân đã tấn công vào trụ sở “Tháng 9 đen tối” tại Beirut và nhà máy sản xuất bom (Chiến dịch tuổi trẻ mùa xuân).
3. Đội bảo vệ biên giới GSG-9 của Đức
Đây là phân đội đặc nhiệm của cảnh sát Liên bang Đức, được thành lập vào tháng 9/1973 1 năm sau cái chết thê thảm của các vận động viên tại Thế vận hội Olympic tại Munich nhằm mục đích ngăn chặn các hoạt động khủng bố tại lãnh thổ Đức trong tương lai.
Đội đặc nhiệm GSG-9 thuộc sự quản lý trực tiếp và duy nhất của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đức. Người đứng đầu GSG-9 có trách nhiệm duy trì đội luôn trong trạng thái sẵn sàng cho các hoạt động tác chiến.
Nếu trong trường hợp xảy ra các tình huống đặc biệt tại bất kỳ nơi nào trên thế giới, theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, đội đặc nhiệm GSG-9 sẽ có mặt để thực hiện nhiệm vụ.
4. Đội đặc nhiệm SAS của Anh
Đội đặc nhiệm chống khủng bố SAS được thành lập trong thời gian xảy ra Thế chiến thứ hai từ 22 trung đoàn của Cơ quan đổ bộ đường không đặc biệt. Các chiến dịch thành công nhất là hoạt động chống lại quân đội Cộng hoà Ireland tại Ireland, Hà Lan, Đức.
SAS đã tham gia vào hàng ngàn chiến dịch từ Shara đến Malaysia. Chiến dịch nổi tiếng nhất - vụ giải phóng con tin tại sứ quán Iran ở London vào năm 1980. Đội đặc nhiệm hàng không (SAS) của Anh cũng được đào tạo ở những lĩnh vực y hệt đội đặc nhiệm SEAL của Mỹ, nhưng họ còn được MI-5 và MI-6, hai cơ quan tình báo của Anh, đào tạo sâu về nghiệp vụ phản gián.
Năng lực thể chất của các thành viên SAS cũng tương đương với tầm vóc của SEAL, tới mức mà lực lượng đặc nhiệm hai nước có thể hợp tác chặt chẽ với nhau khi cần (tại Iraq và Afghanistan) và trở nên thân thiết. Các thành viên của SAS đội mũ nồi màu nâu vàng nhạt. Cả SAS và SEAL đều được các chuyên gia như Sayoc Kali, Krav Maga, Jeet Kune Do huấn luyện chiến đấu bằng dao. Biện pháp chiến đấu tên là Keysi – một cách tự về dựa trên bản năng chống trả và vài kỹ thuật chiến đấu trên đường phố, mà lực lượng này được học, cách đây 3 năm cũng trở nên nổi tiếng qua diễn xuất của Chris Nolan trong bộ phim Batman.
5. Đội can thiệp hiến binh quốc gia GIGN của Pháp
GIGN được thành lập vào tháng 3/1974 để chống lại chủ nghĩa khủng bố Ả-rập tại Pháp. Ban đầu, GIGN gồm 15 hiến binh tình nguyện.
Hiện nay gồm 200 người. Trong suốt quá trình hoạt động từ trước tới nay, GIGN đã giải cứu được gần 500 người và tiến hành gần 100 chiến dịch chống khủng bố. Cho đến thời điểm này, GIGN đã có 10 chiến sỹ đã hy sinh. Chiến dịch thành công nhất là giải cứu 18 con tin đi trên máy bay đến Marseilles bị những tên khủng bố khống chế vào năm 1994.
Những binh lính của GIGN đã được “vinh danh” trong thời gian chế áp cuộc nổi loạn của các tù nhân tại nhà tù Clairvaux của Pháp vào tháng 1/1978, giải phóng khỏi kẻ cuồng tín vũ trang người Hồi giáo chính thánh Kaaba ở Mecca (Ả-rập Xê-út) vào tháng 9/1979, trong chiến dịch lập lại trật tự trên đảo New Caledonia trong cuộc nổi dậy của người bản địa Kanak vào tháng 5/1988.
Sự kiện 11/9/2001 đã trở thành một thảm hoạ vô cùng tang thương không chỉ riêng đối với nước Mỹ mà còn là nỗi ám ảnh "tiềm năng" đối với toàn nhân loại. Đây là một hồi chuông cảnh tỉnh cho các quốc gia trong việc cần phải đề ra các phương án chống lại chủ nghĩa khủng bố.
Đây là đội chống khủng bố tinh nhuệ của Hải quân Hoàng gia Hà Lan. Trong thời chiến, BBE – đơn vị điển hình của quân đội. Bộ phận “chủ chốt” của đội là nhóm đặc nhiệm thuỷ quân lục chiến (GOEM), nhóm tác chiến đổ bộ mặt đất (ACG). Về tổ chức, BBE gồm 2 trung đội, mỗi trung đội có 33 người. Các trung đội được chia ra thành 4 nhóm tấn công. Mỗi nhóm gồm 5 người, thậm chí có cả nữ. Đội cảnh sát đặc nhiệm hoạt động phối hợp với lính thuỷ đánh bộ và lực lượng đổ bộ.
Trong vòng 30 phút, một trong các nhóm của đội BBE luôn có thể hiện diện tại bất kỳ nơi nào đất nước. BBE có một đội tàu đặc biệt, trên tàu có các đội bổ sung từ 4 – 6 người.
Một trong những chiến dịch nổi tiếng mà BBE tham gia, đó là vào năm 1977, nhóm khủng bố đã giữ tàu hành trình trên tuyến từ Rotterdam đến Groningen. Chúng yêu cầu Chính quyền Hà Lan gây ảnh hưởng đến Chính phủ Indonesia để Indonesia thừa nhận miền nam Mollui là một quốc gia độc lập.
Những tên khủng bố đã giết một kỹ sư Hà Lan là hành khách trên tàu và vứt xác xuống để khẳng định lời đe doạ của mình. Cuộc đàm phán với chúng kéo dài hơn hai tuần, nhưng vẫn không thu được kết quả nào. Trong lúc đó, phía Hà Lan đã thu thập những thông tin đầy đủ để mở cuộc tấn công, còn những tên khủng bố không ngờ được điều này.
Cảnh sát đã cải trang chở thực phẩm lên tàu và xem xét tình hình. Theo yêu cầu của bọn khủng bố, họ phải không mặc gì để không thể giấu vũ khí trên người. Cuối cùng, Chính quyền đã quyết định rằng, phương thức duy nhất để cứu người là bắt đầu tấn công. Cuộc tấn công diễn ra từ trên không. Tham gia có 2 máy bay ném bom gây ồn để thu hút sự chú ý của chúng. Mặt khác, 2 nhóm của đội đặc nhiệm đã được phân công tấn công tàu. Một nhóm tấn công tàu, nhóm khác dập cháy nếu xảy ra. Sau 7 phút, nhóm tấn công đã làm chủ được tàu, 6 tên khủng bố bị bắt, 7 bị chết, 2 con tin thiệt mạng.
Chiến dịch tấn công này đã được đưa vào các khoá huấn luyện đối với các đội đặc nhiệm chống khủng bố.
7. Kobra của Áo
Kobra là đội chống khủng bố của cảnh sát Áo, quân số hiện nay gồm 200 người. Chính quyền Áo đã quyết định thành lập đội chống khủng bố sau sự kiện năm 1975 Bộ trưởng các nước tham gia OPEC đã bị tấn công khủng bố. Vào năm 1978, Chính quyền Áo đã chính thức công bố về việc thành lập Kobra.
Đội chống khủng bố Kobra thuộc sự chỉ huy của Tổng giám đốc an ninh xã hội thuộc Bộ Nội vụ Áo. Ngoài đảm nhiệm các hoạt động chống khủng bố, Kobra còn đảm nhiệm bảo vệ sân bay Shvekat tại Vienna.
Các binh lính được trang bị súng lục 9mm của Pháp. Theo đánh giá của các chuyên gia, đây là loại vũ khí thích hợp nhất dùng trong các chiến dịch chống khủng bố. Hiện nay, Kobra chưa bị hy sinh một nhân viên nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Chính vì vậy, đội chống khủng bố của Áo được cho là một trong những đội chống khủng bố tốt nhất.
8. Forsvarets Spesialkommando, FSK của Na Uy
Đội chống khủng bố FSK thành lập năm 1982 tại Trondheim, được huấn luyện các bài tập chủ yếu trên các mỏ dầu mà nước này vốn rất phong phú. Tuy nhiên hoạt động của đội này không chỉ có thế. Các binh lính được huấn luyện điều khiển máy bay, các hoạt động trên tàu, nhà ở.
FSK thường được điều động khi cảnh sát chính thức yêu cầu. Ngoài ra, đội này còn thực hiện sứ mệnh khác đó là bảo vệ gia đình Quốc vương, Chính phủ và Quốc hội. Đây là đội chống khủng bố gồm những binh lính tốt nhất của quân đội quốc gia.
Trụ sở được đặt tại Trandum ở Aershus cách Oslo khoản 60m. Mỗi năm một lần, FSK tham gia các cuộc diễn tập chống khủng bố với tên gọi “Twins”.
Năm 1996, cuộc diễn tập này được tiến hành tại các giàn khoan Heidrun cạnh Trondheim. Các binh bính còn được huấn luyện tiến hành các hoạt động trên tàu chở khách và phà giữa Na Uy và châu lục.
Trong thời chiến, FSK nằm trong thành phần của các lực lượng vũ trang quốc gia và tập trung chủ yếu ở miền bắc Na Uy, giáp ranh với Phần Lan. Đội đặc nhiệm này được các chuyên gia SAS của Anh huấn luyện.
Hiện nay, FSK và SAS có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thường tham gia diễn tập cùng nhau. Các sỹ quan của FSK được huấn luyện riêng tại trường đặc biệt tại Đức. Binh lính phục vụ trong khoảng thời gian 4-5 năm. Năm 1995, một bộ phận của đội này đã được điều động đến Ấn Độ để giải cứu công dân Na Uy bị bắt làm con tin. Tuy nhiên, cuộc giải cứu này đã thất bại.
9. Đội đặc nhiệm Delta của Mỹ
Đội đặc nhiệm Delta của quân đội Mỹ được thành lập năm 1976. Ban đầu, Mỹ dự định thành lập đội chống khủng bố trên cơ sở “Mũ nồi xanh”, nhưng Bộ chỉ huy cấp cao của các lực lượng vũ trang Mỹ quyết định thành lập các lực lượng mới. Delta có trụ sở tại Fort Bragg (North Carolina).
Trong thời gian đương nhiệm, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan coi Delta như là một cậu “con cưng”. Delta là đơn vị chống khủng bố chính thức duy nhất của Mỹ. Đội này chuyên về giải cứu con tin người Mỹ ở nước ngoài. Quân số của Delta là 500 người, trong đó có 2 phụ nữ.
Trong suốt thời gian tồn tại, Delta đã tham gia hàng trăm các chiến dịch bí mật ở khắp mọi nơi trên thế giới, trong đó có Panama và Grenada.
Chiến dịch thành công nhất là hoạt động chống Iraq trong thời gian xảy ra chiến tranh tại Vùng vịnh. Thất bại lớn nhất mà Delta gặp phải đó là nỗ lực giải cứu con tin tại đại sứ quán Mỹ tại Tehran vào năm 1980.
Việc tuyển quân cho Delta được tiến hành thông qua các bài kiểm tra thể chất: hít đất, đứng lên ngồi xuống và chạy 5km trong một thời gian không quy định trước. Tiếp đó là các cuộc kiểm tra trong đêm, leo núi 30km với một chiếc ba lô 13,5kg, một la bàn, không bản đồ.
Các ứng viên còn phải vượt qua chặng đường 64km với địa hình đối núi, vác ba lô nặng 20,5kg trong một thời gian ngắn hơn.
Cuối cùng, các nhà tâm lý học sẽ tiến hành một loạt bài kiểm tra kinh khủng về thần kinh với lính mới nhằm làm cho họ bị lẫn lộn. Nếu vượt qua những thử thách trên, tân binh chính thức được tham gia huấn luyện trong 6 tháng để trở thành thành viên đội Delta.
10. Đội ST-6 của Mỹ
Đội ST-6 được mọi người biết đến với cái tên Navy SEAL, là lực “con át chủ bài” của lực lượng đặc nhiệm hải quân Mỹ. Nhiều người lầm tưởng rằng SEAL có rất đông thành viên. Tuy nhiên, thực tế là đội này chỉ có 2.000 người.
Đội ST-6 được đào tạo và tham gia các sứ mệnh khác nhau như tham gia tác chiến và các chiến dịch tình báo đặc biệt. ST-6 được huấn luyện các biện pháp phi truyền thống để tiến hành các hoạt động tác chiến, giải phóng con tin, chống lại khủng bố, cũng như thực hiện các sứ mệnh khác.
Các chiến dịch chủ yếu được tiến hành tại lãnh thổ các quốc gia khác nhau nhằm giải cứu các tù binh và tiêu diệt các phần tử đứng đầu các tổ chức khủng bố.
Họ được huấn luyện ở mọi lĩnh vực mà các đội đặc nhiệm khác của Mỹ được học, nhưng ở mức cao hơn. Khóa huấn luyện của SEAL kéo dài hơn 1 năm và đòi hỏi người tham gia phải trong độ tuổi 17 tới 28, nam, tỷ lệ nhìn nhầm không dưới 20/200 ở mỗi mắt, tỷ lệ đọc đúng là 20/20, phải trải qua các cuộc kiểm tra thể chất. Sau khi đáp ứng những điều kiện khó khăn, quá trình huấn luyện bắt đầu.
Trong vòng 24 tuần, những người được chọn sẽ trải qua những cuộc diễn tập như lặn, chiến đấu trên mặt đất, thử thách về thể chất. Tiếp đó, lại có 26 tuần huấn luyện cho đủ tiêu chuẩn của SEAL. Sau đó, họ sẽ đi vào các lĩnh vực chuyên sâu mà một đội của SEAL cần có, từ bắn tỉa tới chuyên gia về ngôn ngữ, leo dây, lặn, bí mật đột nhập...
Nguyễn Hoàng (Tổng hợp)

0 nhận xét:
Đăng nhận xét